Ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí đất đai tại Việt Nam

Trong thời gian qua công tác quản lý thông tin đất đã được chú trọng đầu tư và ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu và làm tốt công tác quản lý. Việc ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý đã đạt được những kết quả nhất định đó là:

     Sự ra đời và phát triển CNTT đi dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 3, Cách mạng thông tin. Cách mạng thông tin đã tác động sâu sắc vào tất cả các lĩnh vực khoa học, đời sống, kinh tế, xã hội, tạo nên sự chuyển biến về chất của nền văn minh xã hội loài người.Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường trong những năm qua đã tiến hành ứng dụng CNTT để chuẩn hoá cơ sở dữ liệu bản đồ, hồ sơ ngành Tài nguyên và Môi trường, góp phần tích cực vào quá trình cải cách hành chính, nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý đất đai và môi trường. Từ năm 1997, Trung tâm Thông tin -Lưu trữ tư liệu địa chính (nay là Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường) đã đầu tư trang thiết bị công nghệ, đưa các phần mềm chuyên ngành như: SDR, MICROTATION, I/RACB, GEOVEC để thành lập và số hoá bản đồ địa chính bằng công nghệ số. Hàng năm, những sản phẩm đo đạc bản đồ trước đây bằng phương pháp truyền thống (bản đồ vẽ trên giấy)  được quét ảnh và số hoá để chuyển về cơ sở dữ liệu số. Cho đến nay, tại Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường đã lưu trữ  và quản lý hầu hết cơ sở dữ liệu bản đồ bằng file số gồm: Bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính các cấp của tỉnh, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch sử dụng đất các cấp và các loại bản đồ chuyên đề khác.

      Song song với CSDL bản đồ, CSDL thông tin đất đai (LIS ) được tích hợp để kết nối dữ liệu không gian (bản đồ) với thông tin thuộc tính của từng chủ sử dụng đất tạo nên hệ thống thông tin đầy đủ về đất đai. LIS cho chúng ta quản lý chi tiết về nguồn gốc, diện tích, loại đất, giá đất … của từng thửa đất, từng chủ sử dụng đất. Đồng thời với chức năng tìm kiếm, chỉnh lý, cập nhật bổ sung thuận lợi của LIS đã giúp người quản lý xử lý nhanh chóng trong công việc thuê đất, giao đất, thu hồi đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và in ra các loại hồ sơ, bản vẽ, bảng biểu thống kê …. thay thế công tác lập bảng biểu, sao lục theo phương pháp cổ truyền. Năm 2005 Trung tâm Thông tin TNMT đã tích hợp CSDL cho 18 Phường, xã của Thành Phố Vinh trên phần mềm Cilis 3.0 và sản phẩm đã được đem vào sử dụng có hiệu quả tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất Thành Phố.

     Thực hiện Chương trình Tăng cường năng lực quản lý đất đai và môi trường  (SEMLA/ Chương trình)-  Chương trình hợp tác gữa Chính phủ Thuỵ Điển và  Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2004-2009, chuyên đề Hệ thống thông tin đất đai và môi trường( ELIS) đã được Ban quản lý chương trình SEMLA Tỉnh giao cho đơn vị thực hiện. Trong kế hoạch hàng năm của Dự án, Trung tâm thông tin Tài nguyên và Môi trường đã triển khai thiết kế và tích hợp cơ sở dữ liệu thiết yếu đất đai, môi trường cho một số vùng trọng điểm trên địa bàn Tỉnh, tạo nền cơ sở dữ liệu để tiếp nhận và xây dựng CSDL theo mô hình dữ liệu thống nhất của ELIS do nhóm ELIS Trung ương xây dựng.

     Với chức năng nhiệm vụ được giao, Trung tâm Thông tin Tài nguyên và Môi trường còn thực hiện đào tạo, hướng dẫn, chuyển giao công nghệ cho các Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp Huyện. Hiện nay, 19 Phòng Tài nguyên và Môi trường trong tỉnh đã cơ bản sử dụng các phần mềm chuyên ngành vào công tác quản lý đất đai và môi trường.

 

Bắc Ninh là một trong số ít các tỉnh ở Việt Nam có cơ sở dữ liệu quản lý đất đai tương đối đầy đủ. Bắc Ninh đã áp dụng CNTT vào việc quản lý và xây dựng các cơ sở dữ liệu địa chính, bản đồ hiện trạng và quy hoạch sử dụng đất và một số chuyên đề khác. Bắc Ninh đã sử dụng ELIS như hệ thống cơ bản quản lý toàn bộ số liệu địa chính (bản đồ địa chính, hồ sơ địa chính) dạng số trên phạm vi toàn bộ địa bàn tỉnh (125/125 xã, phường, thị trấn).

Theo Sở Tài nguyên – Môi trường Bắc Ninh, cho biết: Các dữ liệu liên tục được cập nhật, mỗi năm Sở Tài Nguyên Môi trường đều cấp kinh phí dưới dạng kinh phí thường xuyên cho văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất để cập nhật số liệu này vào hệ thống. Hệ thống bản đồ địa chính dạng số đã phủ trùm toàn bộ địa bàn tỉnh và phục vụ trực tiếp cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất và tất cả các nhu cầu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai. Tuy đã đạt được nhiều thành quả, song việc áp dụng CNTT vào quản lý đất đai vẫn còn một số hạn chế như: Mặc dù dữ liệu thông tin đất đai đã được xây dựng cho toàn bộ các đơn vị cấp xã trong tỉnh, nhưng chỉ có 50/125 đơn vị cấp xã có dữ liệu hồ sơ địa chính đồng bộ giữa bản đồ và sổ sách địa chính. Một số đơn vị cấp xã còn lại, dữ liệu được xây dựng theo số liệu đo đạc bản đồ địa chính.

Tuy nhiên, toàn bộ số liệu này vẫn chưa được chuẩn hóa theo quy định của luật đất đai năm 2003, là số liệu lập hồ sơ địa chính ban đầu mà chưa cập nhật được những biến động thường xuyên nên cũng chưa phản ánh được hiện trạng sử dụng đất. Về công nghệ, hiện tại chưa đáp ứng được việc cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai trong cùng một hệ thống. Tất cả dữ liệu được cập nhật theo kiểu chồng, đè lên dữ liệu cũ, chưa tra cứu được quá trình thay đổi (lịch sử) của biến động đất đai. Chưa đáp ứng được các công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực CNTT như công nghệ mạng (chưa chạy được trên mạng), tra cứu trực tuyến.

Mặt khác, hệ thống này cũng mới lưu trữ sau khi đã xử lý, chưa lưu được các thông tin trong quá trình sử lý hồ sơ để phục vụ cho tra cứu hồ sơ sau này. Nhất là các thông tin trong quá trình xử lý  hồ sơ hữu ích khi xử lý tranh chấp đất đai.

Mặt khác, hệ thống cũng chưa tích hợp dữ liệu địa chính với dữ liệu của các ngành khác trong ngành tài nguyên môi trường.

Ngoài ra, dự án xây dựng mô hình ELIS còn được thí điểm tại xã Long Khánh (Đồng Nai) từ 1/2007- 12/2008; Bình Định, Hà Giang, Bà Rịa Vũng tàu và cũng gặp không ít khó khăn về dữ liệu đồ họa thu thập được không thống nhất về cơ sở toán học, nên việc biên tập, chồng xếp bản đồ địa chính và các lớp bản đồ thể hiện yếu tố môi trường rất mất thời gian. Đồng thời, dữ liệu môi trường thu thập qua báo cáo của các cơ sở sản xuất, kinh doanh định kỳ hàng năm (do các cơ sở tự làm gửi về sở tài nguyên môi trường) nên dữ liệu chưa khách quan, dữ liệu lưu ở nhiều khuôn dạng khác nhau, thời điểm khác nhau gây khó khăn và tốn kém trong việc huẩn hóa và tích hợp dữ liệu vào mô hình ELIS,…

Trước những hạn chế này, Sở Tài nguyên- Môi trường Bắc Ninh đã đề xuất với nhóm ELIS: Nhóm chuyên đề ELIS phối hợp với văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Bắc Ninh xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin (máy tính, máy chủ, máy trạm, hệ thống mạng…) để triển khai ELIS. Mặt khác, Văn phòng quản lý sử dụng đất khảo sát hệ thống ELIS đã có (mức core), đưa ra các yêu cầu bổ sung phù hợp với tình hình số liệu thực tế tại Bắc Ninh. Nhóm ELIS cần thiết kế, lập trình, chỉnh sửa ELIS phù hợp với Bắc Ninh, xây dựng hệ thống công khai hóa thông tin tài nguyên – môi trường tại Bắc Ninh

QUẬN BÌNH TÂN Điển hình cho việc ứng dụng thành công HTTT ĐĐXD là quận Bình Tân, một đơn vị ven nội thành, so với nhiều quận/huyện đây là đơn vị được đầu tư sau.Đến Bình Tân thời điểm này sẽ thấy 100% chuyên viên xử lý hồ sơ thuộc phòng Quản Lý Đô Thị và phòng Tài Nguyên và Môi Trường đều sử dụng PM để xử lý hồ sơ. Việc nhận và luân chuyển hồ sơ đều qua PM. Đặc biệt, từ tháng 3/2008, Bình Tân đã ứng dụng CNTT để nhận, chuyển và xử lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở liên thông từ cấp phường. Cán bộ phường sử dụng PM để nhận hồ sơ, theo dõi quá trình xử lý hồ sơ và trả hồ sơ cho dân.

Hiện nay quận đang tiến tới ứng dụng CNTT với quy trình liên thông từ phường, quận, chi cục thuế, kho bạc quận nhằm giảm tối đa thủ tục hành chính. Với HTTT ĐĐXD, tốc độ xử lý hồ sơ tăng gấp 2 đến 3 lần. Quan trọng hơn là thông tin kết xuất từ hệ thống chính xác, thống nhất, dữ liệu được kế thừa và dùng chung cho các loại hồ sơ, các phòng/ban, đơn vị. CSDL được tích hợp và chuẩn hóa để phục vụ cho các ứng dụng phát triển sau này. Hiện tại, HTTT ĐĐXD Bình Tân đã lưu trữ gần 40.000 dữ liệu về giấy chứng nhận và hồ sơ cấp giấy chứng nhận về quyền sử dụng đất, về quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở từ năm 2000, và hàng chục ngàn dữ liệu về giấy phép XD. Chỉ riêng lĩnh vực ĐĐXD với 10 PM ứng dụng đã hỗ trợ cho hơn 20 loại thủ tục hành chính, trong đó gần 100 người đang hàng ngày tham gia vào hệ thống để tác nghiệp, điều hành và tích hợp dữ liệu cho hệ thống. Có thể khẳng định HTTT ĐĐXD quận Bình Tân chỉ có thể thành công nhờ sự quan tâm và chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo quận, sự nhiệt tình và bền bỉ của tổ CNTT thuộc văn phòng UBND quận, sự quyết tâm của lãnh đạo các phòng, ban, sự kết hợp và điều phối chặt chẽ giữa tổ CNTT thuộc văn phòng UBND và các phòng/ban chức năng, với hình thức tổ chức triển khai dự án CNTT rất năng động. Đây là một mô hình đáng tham khảo trong việc đưa ứng dụng CNTT vào cơ quan quản lý nhà nước

 

Những lợi thế khi chọn thuê nhà xưởng tại Kizuna

Công ty bạn đang phát triển, bạn muốn mở thêm nhà xưởng sản xuất nhưng còn đang băn khoăn lo lắng vì chưa tìm được vị thế ưng ý, chất lượng nhà xưởng không tốt, hệ thống an ninh không đảm bảo,..Hãy cứ yên tâm Kizuna sẽ đáp ứng tất cả nhu cầu của bạn, với vị trí nằm cách trung tâm thành phố 15km, khu nhà xưởng xây sẵn của Kizuna là một vị trí đắc địa mà các nhà đầu tư không thể bỏ qua. Đặc biệt, khi thuê nhà xưởng tại đây các nhà đầu tư sẽ được Kizuna hỗ trợ giấy chứng nhận đầu tư. Nhà đầu tư chỉ cần cung cấp các tài liệu, giấy tờ liên quan cần thiết và nhân viên Kizuna sẽ tiến hành xin phép và lấy giấy chứng nhận đầu tư cho nhà đầu tư. Chi phí cấp giấy chứng nhận đầu tư: NĐT chỉ trả những khoản phí phát sinh thực tế (có biên lai, ước chừng 100~200 USD), thời gian thực hiện nhanh chóng: tối đa 02 tháng, chi tiết về việc thực hiện các thủ tục pháp lý bạn có thể tham khảo tại link: http://www.kizuna.vn/index.php/vn/dich-vu/dich-vu-ho-tro. 

Nhà xưởng rộng 1500 m2 ở Kizuna

.