Quan điểm thu hút nguồn vốn ODA

Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2001-2010 đã nêu rõ mục tiêu tổng quát là “duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững, tạo chuyển biến mạnh về chất lượng phát triển, vượt ra khỏi tình trạng nước kém phát triển, thu nhập thấp. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng CNH, HĐH. Nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, khai thác có hiệu quả quan hệ kinh tế đối ngoại”.

          Để thực hiện thành công mục tiêu tăng trưởng kinh tế đến năm 2010 và biến nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp như Đại hội IX của Đảng đã đề ra, đòi hỏi phải có sự chuyển biến cơ bản và mạnh mẽ cả trong nhận thức và hành động của tất cả các ngành, các cấp. Đối với lĩnh vực thu hút vµ sử dụng vôn ODA, cần thống nhất nhận thức và khẳng định quan điểm chiến lược thu hút ODA cả đối với trung hạn và dài hạn. Dựa trên quan điểm của Đại hội IX và Nghị quyết Trung ương 9 của Đảng, trên cơ sở đánh giá, dự báo tình hình trong nước và  quốc tế trong những năm tới, cần khẳng định và quán triệt các quan điểm sau đây:

        Thứ nhất, phải coi thu hút và sử dụng có hiệu quả vốn ODA là một bộ phận khăng khít của Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, của các kế hoạch 5 năm và hàng năm; trong đó, ODA đóng vai trò là nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và quá trình CNH, HĐH đất nước.

Thứ hai, giữa thu hút và sử dụng vốn ODA  với phát huy nội lực có mối quan hệ hữu cơ với nhau, không đối lập nhau mà kết hợp chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp để phát triển đất nước.

Thứ ba, phải coi  ODA là một bộ phận quan trọng, thực hiện đầy đủ các cam kết trong tiến trình hội nhập. Trên cơ sở đó nhiệm vụ thu hút và sử dụng vốn ODA trong những năm tới cần được coi trọng trong bối cảnh nước ta hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới để có các đối sách và giải pháp phù hợp.

Thứ t­, trong việc thu hút ODA, cần coi trọng cả chất và lượng, trong đó, đặc biệt coi trọng chất lượng các dự án về mặt thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn, khả năng mở rộng thị trường xuất khẩu; tác dụng phát triển các ngành và sản phẩm có sức cạnh tranh cao; giải quyết việc làm và các yếu tố liên quan đến bảo vệ môi trường.